ĐaKao: Một Trung Tâm Văn Hóa
Lâm Vĩnh Thế
Trước năm
1975, vùng Đakao thuộc Quận I của thủ đô Sài G̣n. Trong thời Pháp thuộc, vùng n ày có tên là Đất Hộ. Tuy hiện nay
chưa có những tài liệu nghiên cứu nghiêm chĩnh và
có hệ thống về lịch sử của vùng
đất nầy khiến ta không rơ về nguồn gốc
của địa danh nhưng có thể khẳng
định đây là một trong những vùng đất
được khai thác từ lâu đời nhất của
Saigon, có lẻ đă trên một trăm năm. Một
bằng chứng cụ thể là Chùa Ngọc Hoàng, ở
đường Phạm Đăng Hưng, theo sách "Saigon
Năm Xưa" của cố học giả Vương
Hồng Sển, nguyên Giám Đốc Viện Bảo Tàng
Saigon, đă được xây cất từ năm 1905.
Điều nầy có thể giải thích phần nào do
vị trí nằm sát Rạch Thị Nghè, một nhánh của
Sông Saigon, một trục giao thông quan trọng, nhất là
trong giai đoạn mới bắt đầu khai thác
của thực dân Pháp. Với
vị thế là một vùng đất xưa, Đakao
đă có một đời sống văn hóa khá đậm
nét về nhiều mặt. Một điều đặc
biệt cần lưu ư là khu Đakao, so với phần
lớn những khu vực khác trong thành phố Saigon, có
một mật độ rất cao về cơ sở
văn hóa.
Các Cơ Sở
Giáo Dục
Trước hết xin nói về các cơ
sở của Bộ Giáo Dục. Hầu hết các bộ
phận đầu nảo của Bộ đều tọa
lạc trong khu Đakao. Trụ sở của Bộ Giáo
Dục, với các bộ phận trực thuộc như
Nha Du Học, Nha Kế Hoạch, đều nằm tại
khu vực ngả tư Lê Thánh Tôn và Hai Bà Trưng. Hai bộ
phận khác cũng rất quantrọng của Bộ là
Tổng Nha Trung, Tiểu Học và B́nh Dân Giáo Dục, và Nha
Khảo Thí đều tọa lạc tại
đường Nguyễn Bĩnh Khiêm, đối diện
với Sở Thú. Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật
Học Vụ th́ được đặt tại
đường Mạc Đĩnh Chi, đối diện
với Nha Khí Tượng. Ty Tiểu Học Saigon th́
nằm trong khuôn viên của Trường Nữ Tiểu
Học Đakao, trên đường Phan Đ́nh Phùng,
đối diện với Pḥng Thí Nghiệm Vi Trùng Học.
Về các trường đại học, sau
cuộc đăo chánh 1-11-1963, thành Cộng Ḥa, nơi
đồn trú của Lữ Đoàn Pḥng Vệ Phủ
Tổng Thống, đă được biến thành trụ
sở của hai trường Văn Khoa và Dược Khoa.
Về sau Trường Nông Lâm Súc cũng được
đưa về đây luôn. Hai Trường Luật Khoa,
nằm trên đường Duy Tân, và Kiến Trúc, nằm
gần ngả tư Duy Tân và Phan Đ́nh Phùng, cũng như
trụ sở của Viện Đại Học Saigon,
nằm ngay tại Công Trường Chiến Sĩ (mà sau
năm 1975 dân chúng Saigon thường gọi là Hồ Con
Rùa), bên cạnh trường Luật Khoa, cũng có thể
xem là thuộc khu Đakao.
Về các trường trung học công lập,
th́ phải kể ngay đến trường nam Vơ
Trường Toản, và trường nữ Trưng
Vương, nằm ngay bên cạnh Tổng Nha Trung, Tiểu
Học và B́nh Dân Giáo Dục. Trong thời Pháp thuộc,
tại địa điểm nầy là Ecole Normale
(Trường Sư Phạm) đào tạo giáo viên tiểu
học cho cả Nam Kỳ. Cả hai trường Vơ
Trường Toản và Trưng Vương đều là
trường trung học đệ nhị cấp (sau 1975,
chính quyền mới gọi là trường phổ thông
cấp ba), dạy đến lớp đệ nhứt,
tức là lớp đi thi bằng cấp Tú Tài II. Ngoài ra,
tại đường Hồng Thập Tự, ngó ngay ra
ngả ba với đường Phùng Khắc Khoan, từ
thập niên 60 trở đi, ta c̣n thấy có trường
Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường
Tộ. Trường nầy
chỉ là một trường trung học đệ
nhất cấp mà thôi.
Về các trường trung học tư
thục, th́ khu Đakao tập trung phần lớn các
trường nổi tiếng của Saigon. Vào đầu
thập niên 50, khi chương tŕnh Pháp vẩn c̣n
được giảng dạy song song với chương
tŕnh Việt, th́ phải kể đến hai trường
quan trọng là trường Vương Gia Cần, nằm
trong một biệt thự có lầu ở đường
Phan Thanh Giản, đối diện với ngả ba Phan
Kế Bính, và trường Les Lauriers, ở đường
Mạc Đĩnh Chi, giữa ngả ba Phan Thanh Giản và
ngả tư Tự Đức, sau dời về
đường Đinh Công Tráng, gần ngả ba Lư
Trần Quán, và đổi tên là trường Tân Thịnh.
Các trường dạy chuyên về chương tŕnh
Việt th́ quan trọng nhứt phải kể đến
trường Huỳnh Khương Ninh, nằm trên
đường D'Ariès, gần đầu ngả ba với
đường Paulin Vial. Trường nầy có từ rất
lâu đời, gồm một dăy nhà hai tầng khang trang,
dạy cả tiểu học và trung học, điều
hành bởi một ban giám đốc và giảng huấn có
khả năng, tận tâm và yêu nghề, và đặc
biệt là có tinh thần yêu nước cao. Chính v́ thế,
trong thời Pháp thuộc, trường nầy đă là
mục tiêu theo dơi thường xuyên của mật thám Pháp.
Sang thời Cộng Ḥa, trường nầy cũng lại
là nơi tập trung một số cán bộ đảng
viên của đảng Cộng Sản, nên cũng vẫn
tiếp tục bị theo dơi nghiêm nhặt bởi Tổng
Nha Cảnh Sát. Sau ngày 30-4-1975, vị Hiệu Trưởng của
trường nầy đă được chính quyền quân
quản đề cử làm Giám Đốc đầu tiên
của Sở Giáo Dục Thành phố Hồ Chí Minh. Kế
đến là các trường Huỳnh Thị Ngà, ở
đường Trần Nhật Duật, và trường
Việt Nam Học Đường, ở cuối
đường Đặng Tất. Sau thập niên 60, th́ có
thêm hai trường là trường Văn Hiến, ở
đường Trần Quang Khải, gần rạp
chớp bóng Văn Hoa, và trường Tân Thanh, ở
đường Trần Quư Khoách, sau lưng trường
Việt Nam Học Đường. Một trường
trung học tư thục nữa ở Đakao là
trường Đông Tây Học Đường, nằm
ở đường Hai Bà Trưng, đối diện
với ngả ba đường Tự Đức.
Trường nầy chỉ sống được mấy
năm v́ ít học sinh và v́ kết quả giáo dục
tương đối kém nên không cạnh tranh nổi
với các trường tư thục khác trong vùng. Ngoài ra
cũng phải kể đến trường chuyên dạy
Anh ngữ đầu tiên của Saigon là Trường Anh
ngữ Trần Gia Độ, nằm trên đường
Phạm Đăng Hưng, gần chùa Ngọc Hoàng (về
sau là địa điểm của Vỏ dường Nhu
đạo của Thích Tọa Thích Tâm Giác). Tất cả các trường
trung học tư thục nầy, dù nhiều dù ít,
đều đă có những đóng góp quan trọng vào
việc giáo dục thanh thiếu niên ở cấp trung
học trong một thời gian dài, nhất là trong thập
niên 50 (trước 19540) v́ lúc đó tại Saigon chỉ có một
trường trung học công lập duy nhất là Lycée Pétrus
Trương Vĩnh Kư ở mải tận trong khu Nancy,
gần Chợ Lớn. Tất cả học sinh Saigon, sau
khi thi đậu bằng Tiểu Học, đều
phải trải qua kỳ thi tuyển vào trường Pétrus
Kư. Năm 1953 khi tôi tham dự kỳ thi tuyển nầy,
trường Pétrus Kư chỉ lấy vào 550 học sinh cho 10
lớp Đệ Thất. Những học sinh rớt
kỳ thi tuyển nầy không c̣n cách nào khác hơn là
phải theo học tại các trường trung học
tư thục.
Về các
trường tiểu học công lập, khu Đakao có hai
trường, trường nam nằm trên đường
Đinh Tiên Hoàng, giữa hai đường Tự
Đức và Nguyễn Thành Ư, và trường nữ,
nằm trên đường Phan Đ́nh Phùng, cùng một
địa điểm với Ty Tiểu Học Saigon. Tôi
theo học trường nam suốt bậc tiểu học,
cho đến khi thi đậu vào trường Trung Học
Pétrus Trương Vĩnh Kư, nên đă có rất nhiều
kỹ niệm với ngôi trường nầy. Tôi xin
mở dấu ngoặc ở đây để nói thêm vài
điều về giáo dục tiểu học và ngôi
trường nầy. Chương tŕnh giáo dục tiểu
học lúc đó đă được chuyễn ngữ, dùng
tiếng Việt để giảng dạy, nhưng
vẩn c̣n phải học môn Pháp văn. Tên gọi của
các cấp lớp đều dùng cả hai ngôn ngữ:
Lớp Năm (nôm na gọi là Lớp Chót) - Cours Enfantin,
Lớp Tư - Cours Préparatoire, Lớp Ba - Cours Élementaire,
Lớp Nh́ - Cours Moyen, Lớp Nhứt - Cours Supérieur, và
Lớp Tiếp Liên - Cours Certifié. Về thi cử, hết
Lớp Ba th́ phải qua một kỳ thi lấy văn
bằng Sơ Đẳng Tiểu Học, đậu th́
mới được lên Lớp Nh́. Hết Lớp
Nhứt th́ phải đi thi lấy văn bằng Tiểu
Học. Đậu bằng Tiểu Học rồi th́
mới được làm đơn xin dự kỳ thi
tuyển vào Lớp Đệ Thất của trường
Trung Học Pétrus Kư. Những
người thi rớt kỳ thi tuyển nầy, muốn
năm sau thi lại, th́ xin vào học Lớp Tiếp Liên.
Trong thời gian tôi theo học, trường nam Tiểu
Học Đakao có 2 lớp cho mổi cấp, trừ
cấp Tiếp Liên chỉ có một lớp thôi. Xin đóng
dấu ngoặc lại ở đây.
Về các
trường tiểu học tư thục, khu Đakao có
rất nhiều cơ sở như thế nhưng tôi không
c̣n nhớ được hết, nên chỉ xin kể ra
đây những trường tôi c̣n nhớ được.
Trường đầu tiên tôi muốn nói đến là
trường Quốc Học, không phải v́ nó là
trường lớn nhứt hay quan trọng nhứt mà
chỉ v́ đó là ngôi trường tôi theo học
đầu tiên trong đời. Đó là cuối năm 1947,
tôi mới được 6 tuổi, mẹ tôi đóng
tiền cho tôi vào học Lớp Chót tại trường
nầy để chuẩn bị cho tôi năm sau sẽ xin
vào trường Tiểu Học Đakao. Ngôi trường
nầy nằm ở đường Legrand de la Liraye (sau
gọi là đường Phan Thanh Giản), gần ngả
tư với đường Albert 1er (Đinh Tiên Hoàng), ngay
đằng sau tiệm hủ tiếu của người
Hoa ở ngả tư nầy. Trường nầy chỉ
là một căn phố và có 3 lớp mà thôi, một Lớp
Chót, một Lớp Tư và một Lớp Ba. Tôi theo học
tại trường nầy độ 5 hay 6 tháng ǵ đó mà
thôi, đủ để biết đọc, biết
viết, và thuộc cữu chương. Sau trường nầy
th́ phải kể đến các trường nằm trên
đường Paul Bert (Trần Quang Khải) mà tôi chỉ
c̣n nhớ tên được một trường mà thôi,
đó là trường Lễ Văn (chắc là đặt
tên theo câu Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn). Từ
cuối thập niên 50 trở đi, mới thấy
xuất hiện các trường Mẫu Giáo, và khu Đakao
cũng có hai cơ sở lớn và nổi tiếng, đó
là Trường Michelet, sau đổi tên là Rạng Đông,
ở đường Hiền Vương, gần ngả ba
Lư Trần Quán, và Trường Mạnh Mẫu, nằm trong
đường Lư Trần Quán.
Các Cơ Sở Tôn Giáo
Song song với cơ sở giáo dục như
vừa kể qua ở trên, các cơ sở tôn giáo trong vùng
mới chính thật là nét văn hóa đặc thù của khu
Đakao.
Trước hết xin nói về các ngôi đ́nh. Tôi tin rằng trong toàn thành phố
Saigon không có khu vực nào có nhiều đ́nh như khu
Đakao và tập trung trong một diện tích nhỏ
hẹp như vậy.
Nội trên đường Trần Quang
Khải thôi ta đă có đến 4 ngôi đ́nh. Ở khoảng đầu
đường, đi vào từ ngả tư với
đường Đinh Tiên Hoàng, bên phải có một ngôi
đ́nh mà tôi không c̣n nhớ tên, ngôi đ́nh nầy bề
ngoài trông như một căn phố, không có sân; cách đó
chừng mười lăm mét, bên tay trái là ngôi đ́nh
lớn nhứt trong toàn khu Đakao, đó là đ́nh Nam
Chơn. Đ́nh nầy có sân
rất rộng, có cả một cây đa cổ thụ ngay
ở trước, phía bên trong vách tường bằng
gạch ở mặt tiền.
Chính dưới bóng mát của cây đa nầy là các
bàn hớt tóc mà tôi đă nhiều lần đến hớt tóc lúc
c̣n nhỏ. Vào bên trong, toà nhà của đ́nh
với điện thờ nằm bên tay trái, phần c̣n
lại là một khoảng sân đất rất rộng,
đây là nơi dựng rạp khi cúng kỳ yên. Rạp được dựng lên
bằng vải và được sử dụng cho hai
việc: ban ngày là nơi để cho khách đến cúng
đ́nh ngồi nghĩ uống nước, ghi sổ cúng
tiền, và chờ đợi đến phiên ḿnh vào lể
khi bên trong điện đă quá chật, ban đêm trở
thành rạp hát để tŕnh diển các vở tuồng hát
bội. Sau đ́nh Nam Chơn,
ra đến gần ngả ba với đường
Nguyễn Phi Khanh, bên tay phải lại có một ngôi
đ́nh nhỏ nữa, tôi cũng không nhớ tên ngôi đ́nh
nầy, chỉ nhớ ngôi đ́nh nằm bên cạnh
một con hẽm nhỏ, và là nơi đóng đô
thường trực của một đoàn hát bội
nhỏ. Qua khỏi ngả ba
Nguyễn Phi Khanh, tại ngay ngả ba với
đường Bà Lê Chân, là đ́nh Phú Ḥa, với cửa vào
quay ra đường Bà Lê Chân, chính tại đây có quán cà
phê của nghệ sĩ cải lương lừng danh
Bảy Nhiêu. Đ́nh Phú Ḥa
thường được các đoàn cải lương
lớn dùng làm nơi tập tuồng mới.
Trên đường Nguyễn Phi Khanh, ngay
ngả ba với đường Huyền Quan, gần ra
tới ngả ba với đường Trần Quang
Khải, cũng có một ngôi đ́nh lớn là đ́nh
Sơn Trà. Đ́nh nầy
chỉ nhỏ hơn đ́nh Nam Chơn thôi, phía
trước và dọc theo cạnh đường Huyền
Quan là hàng rào cây sống.
Trước mặt tiền của điện
thờ cũng là một sân đất lớn và, cũng
như đ́nh Nam Chơn, đây là nơi dựng rạp
trong các dịp cúng kỳ yên.
Chính tại ngôi đ́nh nầy tôi đă
được mẹ tôi cho đi theo để coi
những vở tuồng hát bội nổi tiếng của
thời đó như tuồng San Hậu, Huê Dung Đạo,
Thần Nữ Dưng Ngủ Linh Kỳ, Trăm Trịnh Ân...,
với các cô đào hát bội một thời vang bóng như
Cô Năm Đồ, Cô Cao Long Ngà ... Tôi c̣n nhớ măi cái không
khí ngột ngạt của các đêm hát bội tại
đây. Rạp bằng vải
bố, che không cao lắm, bên trong rạp rất chật, và
nóng bức. Sân khấu
bằng gổ cũng không cao lắm, và gần như lúc
nào cách bài trí cũng giống nhau, dầu là cảnh nhà dân,
nhà quan, hay cung vua, cũng chỉ thấy có một cái bàn
với hai cái ghế để ở hai bên, cả bàn và
ghế đều có tấm phủ mầu sắc
đẹp. Ngay
đưới sân khấu, chỉ có hai hay ba hàng
đầu là để ghế, các hàng c̣n lại toàn là
băng gổ. Ngay
trước cái ghế ở chính giữa hàng ghế
đầu có để một cái trống lớn, và
người ngồi ở cái ghế đó thỉnh
thoảng cầm cây chầu đánh vào trống mấy cái
thùng thùng. Về sau lớn lên
tôi mới biết đó là một vị chức sắc
trong đ́nh có nhiệm vụ "cầm chầu"
để làm cái việc đánh giá cách tŕnh diển của các
nghệ sĩ trên sân khấu.
Thỉnh thoảng người đi xem cũng tham gia
vào việc tán thưởng các nghệ sĩ bằng
tiền, họ kẹp tiền vào các cây quạt xếp
bằng giấy và liệng quạt lên sân khấu. Đoàn hát luôn luôn có người
phụ trách đi lượm các cây quạt, gở tiền
ra và mang quạt không trả lại cho khán giả.
Trên đường Nguyễn Bĩnh Khiêm, ngay
ngả tư với đường Tự Đức, là
đ́nh Tân An, cũng là nơi đóng quân của một
đoàn cải lương nhỏ.
Tôi không có kỹ niệm ǵ về ngôi đ́nh nầy.
Ngoài ra khu Dakao c̣n cái đ́nh nhỏ
nữa. Đ́nh nầy nằm
trong một con hẽm trổ ra gần nơi
đường Đinh Tiên Hoàng gặp đường
Hiền Vương. Con
hẽm nầy ăn thông ra đến đường
Huỳnh Khương Ninh. Tôi
không c̣n nhớ tên ngôi đ́nh nầy.
Như thế là trong một khu vực với
diện tích chưa tới một cây số vuông, ta có
tất cả 7 ngôi đ́nh.
Nếu tính theo đường chim bay, hai ngôi đ́nh
lớn nhứt trong khu Đakao, đ́nh Nam Chơn và đ́nh
Sơn Trà, cách nhau chưa tới hai trăm mét. Hồi c̣n nhỏ tôi hoàn toàn không
nghĩ ǵ về mật độ tập trung nầy
của các ngôi đ́nh trong vùng.
Về sau lớn lên, nhất là tôi lại học
về ngành sử, nét văn hóa đặc thù nầy làm tôi
thấy thắc mắc nhiều.
V́ thông thường mổi làng chỉ có một ngôi
đ́nh mà thôi, làm nơi thờ thành hoàng bổn cảnh
. Làng ở trong Nam lại thông
thường có diện tích rất lớn. Thật khó tin là khu vực nhỏ
bé nầy của Đakao, nơi quy tụ bảy ngôi
đ́nh nầy, ngày xưa là địa hạt của
bảy cái làng. Nhưng nếu
không phải như vậy th́ tại sao lại có tới
bảy cái đ́nh. Tôi đă có
dự định làm một cuộc nghiên cứu về các
ngôi đ́nh nầy để t́m câu trả lời nhưng
chưa bao giờ làm được v́ nhiều lư do ngoài ư
muốn. Cho đến một
hôm vào khoảng cuối năm 1974, rất t́nh cờ,
thắc mắc nầy của tôi đă được
giải đáp một phần nào.
Hôm đó tôi đi họp ủy ban tại trụ
sở của Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục
(HĐVHGD) ở đường Trần Quư Khoách mà tôi là
một thành viên. Trong khi
chờ họp, tôi ngồi tṛ chuyện với cụ
Đổ Văn Rở, Thứ Trưởng Bộ Văn
Hoá Giáo Dục Đặc Trách Văn Hóa, Phó Chủ Tịch Văn Hóa
của HĐVHGD (ở nhiệm kỳ 2 nầy của
HĐVHGD, 1974-1977, Chủ Tịch HĐVHGD là Phó Tổng
Thống Trần Văn Hương, Phó Chủ Tịch Giáo
Dục của Hội Đồng là Giáo Sư Trần
Văn Tấn, Khoa Trưởng Đại Học Sư
Phạm Saigon). Tôi không c̣n nhớ
chúng tôi đă khởi đầu câu chuyện như thế
nào nhưng sau một hồi th́ câu chuyện xoay quanh các ngôi
đ́nh của vùng Đakao. Tôi
chợt nhớ lại thắc mắc của ḿnh nên đem
vấn đề ra hỏi cụ Rở. Không suy nghĩ ǵ cả, cụ nói
ngay ư nghĩ của cụ ra cho tôi nghe, và tôi nhận thấy
cụ rất có lư, và đây có thể là mấu chốt
của vấn đề. Theo
cụ Rở, những người đă dựng lên các ngôi
đ́nh nầy là những di dân thuộc các làng chài
lưới đánh cá từ miền nam Trung phần vào. Tiếng địa phương
gọi các làng chài nầy là các Vạn. Vào đây rồi, khi đă ổn
định th́ họ lập đ́nh để tiếp
tục thờ cúng các vị thành hoàng của họ. Mổi Vạn đều có thành
hoàng riêng nên bắt buộc họ phải lập đ́nh
riêng. Đó là lư do tại sao có
quá nhiều đ́nh trong môt phạm vi nhỏ hẹp như
thế. Cụ Rở
đưa ra bằng chứng là ngay tại vùng Đakao
nầy có một xóm gọi là Xóm Vạn Chài. Xóm nầy nằm sát bờ
Rạch Thị Nghè, ngay phía sau khu vực trường
Văn Hiến và rạp chớp bóng Văn Hoa ở
đường Trần Quang Khải sau nầy, gần
như đối diện với đ́nh Nam Chơn, và
cũng không cách đ́nh Sơn Trà bao xa. Cho tới thập niên 50, lúc tôi c̣n
nhỏ, xóm nầy vẩn c̣n mang tên là Xóm Vạn Chài. Lư luận và bằng chứng
cụ Rở đưa ra khá vững, tôi nghĩ là
bước kế tiếp cần thực hiện là nghiên
cứu các thần sắc (nếu c̣n) thờ trong các ngôi
đ́nh nầy, chắc chắn ta sẽ t́m được
gốc tích của những người đầu tiên
đă lập ra các ngôi đ́nh nầy. Trong thâm tâm tôi tin rằng
thuyết của cụ Rở là đúng.
Sau các ngôi đ́nh, các cơ sở tôn giáo quan
trọng khác của khu Đakao là chùa Cô Hồn ở
đường Trần Quang Khải, chùa Ngọc Hoàng
ở đường Phạm Đăng Hưng và
Đền thờ Đức Trần Hưng Đạo
ở đường Hiền Vương. Trong ba cơ sở nầy, chùa
Ngọc Hoàng là cổ nhứt.
Ngay trong thập niên 50 lúc tôi c̣n nhỏ th́ chùa nầy
đă có được nữa thế kỹ rồi. Chùa Ngọc Hoàng có cơ sở khá
lớn, cổng gạch, sân rộng và dài, lối đi lát
gạch, bên trong sân có nhiều cây cối. Vào hết phần sân ngoài rồi
là lan can bằng gạch rồi đến phần sân trong
hoàn toàn lát gạch, có nhiều cây kiểng, và đặc
biệt ở góc bên tay phải có một hồ nhỏ nuôi
rùa và cua đinh, mặt hồ hoàn toàn phủ rong xanh, vách và
thành hồ bằng đá cũng đầy rong rêu, trông
rất cổ kính.
Trước khi vào bên trong chùa, hai bên cửa có hai
tượng Ông Thiện và Ông Ác to gần bằng
người thật, đứng cầm gươm, màu
sắc rực rỡ. Bên trong
chùa lúc nào cũng âm u và khói nhang nghi ngút, thú thật tôi
chỉ dám đứng ở ngoài cửa nh́n vào mà thôi,
chưa bao giờ tôi dám bước vào bên trong. Tôi chỉ thích đứng
chồm ḿnh vào thành cái hồ ngoài sân để nh́n các chú rùa
lâu lâu trồi lên mặt nước để thở. Chùa Cô Hồn, cách không xa đ́nh
Phú Ḥa, tuy gọi là chùa nhưng xem có vẻ giống cái
đ́nh nhiều hơn, không biết cất từ năm
nào, có cổng gạch và sân gạch, về sau dường
như có cho thuê phần sân để làm garage sửa xe
hơi. Chùa Cô Hồn th́ tôi
cũng có khá nhiều kỹ niệm. Đó là nơi hàng năm vào dịp
Rằm Tháng Bảy bọn con nít tụi tôi kéo tới xem
cúng cô hồn, xem tượng Ông Tiêu làm bằng hoa lá,
với cái lưởi le dài ra, đỏ ḷm trông đễ
sợ, và cũng để chờ tiết mục hấp
dẫn nhứt sau khi chùa cúng xong: đó là màn màn nhào vô
giựt bánh trái, giựt tiền trong chùa liệng ra sân
(gọi là thí cô hồn). Bánh
trái th́ đủ loại, nào chuối, nào khoai, nào
đậu phộng nấu, nào bánh cúng, bánh cấp, bánh in,
bánh ít. C̣n tiền th́ chỉ là
bạc cắt, một cắt, hai cắt mà thôi. Đền thờ Đức Thánh
Trần là mới nhứt trong ba cơ sở tôn giáo nầy. Đền được cất
lên sau năm 1954, bên ngoài đường Hiền
Vương nh́n vào tưởng như chỉ là một
căn phố với cổng sắt cao. Sau khi vào cổng rồi là một
lối đi lát gạch, bề ngang chỉ rộng
độ ba mét, dài độ hơn mười mét. Cuối lối đi nầy khách
viếng thăm đền sẽ ngạc nhiên vô cùng khi
đối diện với một sân gạch rất
rộng nằm xéo qua phía bên tay phải, sân nầy h́nh
chữ nhựt, mổi cạnh dài có đến trên hai
mươi mét. Cuối sân
đó là điện thờ, nền lát gạch bông luôn luôn
sạch bóng và sơn son thếp vàng rực rỡ. Hàng năm đến ngày húy
của Đức Thánh th́ đồng bào đến lể
đông vô cùng, bên trong khói nhang nghi ngút và chiêng trống
đánh vang rền.
Khu Đakao c̣n một cơ sở tôn giáo
nữa, tuy nhỏ nhưng mang nhiều nét độc
đáo. Đó là Miểu
Nổi. Đây là tên của
người địa phương đặt cho cơ
sở tôn giáo nầy, tên chính thức của nó là ǵ th́ tôi
không biết v́ chưa bao giờ nghe nói đến. Đặt tên như thế v́
đây là một cái miểu cất trên một cái cù lao
nhỏ trên rạch Thị Nghè (rạch Thị Nghè là tên
gọi trên bản đồ, người địa
phương th́ gọi là sông Cầu Bông). Có thể đến Miểu
Nổi bằng hai cách, hoặc theo một con hẽm
nhỏ ở đường Trần Quang Khải, đi
xuyên qua hết khu xóm Vạn Chài, ra tới tận bờ
sông rồi dùng đ̣ qua miểu, hoặc đi xuyên qua
trại cưa Trần Pháp, ở dưới dốc
Cầu Bông, về phía bên Bà Chiểu, độ hơn 100
mét, ra bờ sông rồi cũng dùng đ̣ qua miểu. Miểu là nơi thờ một
vị Thánh Mẫu, dân trong vùng thường chỉ gọi
là Bà, nên cũng có khi người ta gọi cơ sở tôn
giáo nầy là Miểu Bà. Dân
chúng trong vùng tin là Bà rất linh thiêng, cầu xin ǵ cũng
được, nên suốt năm lúc nào cũng có đông
người đến cúng vái, và v́ thế Miểu Nổi
lúc nào cũng ở trong t́nh trạng được chăm
sóc, sơn phết tươi tốt.
Về phần đạo Thiên Chúa, ngoài hai ngôi
thánh đường lớn, tuy không xa khu Đakao, nhưng
khó có thể gọi là thuộc khu Đakao, Nhà Thờ
Đức Bà Saigon (về sau được Toà Thánh La Mă
nâng cấp lên hàng Vương Cung Thánh Đường), và
Nhà Thờ Tân Định, c̣n phải kể đến các cơ
sở đào tạo tu sĩ nằm trong khu Đakao. Đó là Đại Chũng
Viện Saigon và nhà Ḍng Tu Kín, cả hai cơ sở nầy
đều nằm trên đường Cường
Để.
Ngoài những cơ sở tôn giáo thuần túy
như vừa tŕnh bày ở trên, khu Đakao c̣n có Đền
thờ Quốc Tổ trong Thảo Cầm Viên (người
Saigon thường gọi là Sở Thú). Sau khi vào cổng chính của
Thảo Cầm Viên, nh́n sang phía tay phải ta thấy ngay
đền thờ Quốc Tổ.
Ngôi đền nầy có kiến trúc rất
độc đáo, vuông vức, mổi cạnh khoảng 10
mét, dựng trên một mô đất cao, với mái cong, lợp
ngói âm dương rất đẹp. Mổi phía đều có bậc
thềm đá dẩn lên đền, hai bên thềm có lan can
h́nh rồng đúc xi măng và sơn phết rất
đẹp. Ngay trước
mặt chính của đền là sân lát gạch, ỡ
giữa có một bia đá.
Nh́n từ phía chính diện vào trong đền, bên tay
phải, các đền chừng 5 mét có một tượng
voi bằng đồng đen, theo bảng đề bên
cạnh th́ tượng voi nầy là do Vua Cao Miên tặng vào
dịp khánh thành Sở Thú.
Chung quanh đền, bốn phía đều có cửa
bằng gổ quư. Đền
chỉ mở cửa cho khách viếng vào ngày Chúa Nhựt
thôi. Bên trong đền là
điện thờ sắp xếp như trong các ngôi
đ́nh, chia làm ba gian, với các giá dựng binh khí bằng
đồng bóng loáng. Hàng
năm cứ đến ngày Giổ Tổ Hùng Vương
đều có tổ chức lể rất long trọng
tại đây.
Các Cơ Sở Văn Hóa Khác
Ngoài các cơ sở giáo dục và tôn giáo
vừa kể trên, khu Đakao c̣n có nhiều cơ sở
văn hóa quan trọng khác.
Trước hết, đáng kể nhứt là
Thảo Cầm Viên Saigon, tức Sở Thú. Tọa lạc trên một vùng
đất rộng hàng chục mẫu, mặt tiền là
đường Nguyễn Bĩnh Khiêm, một cạnh là
đường Hồng Thập Tự, và mặt sau
chạy dọc theo rạch Thị Nghè, Sở Thú là một
trong những khu giải trí quan trọng của dân chúng
Saigon, nhứt là vào ngày Chúa Nhựt.
Sở Thú thời Pháp thuộc gọi là Jardin Botanique
(nghĩa là vườn bách thảo), sang thời Cộng Ḥa
đổi ra tên Việt, gọi là Thảo Cầm Viên,
nhưng đối với người dân Saigon th́ truớc
sau vẩn gọi là Sở Thú. Theo ư kiến riêng của tôi
th́ cả ba tên gọi nầy, hai tên chính thức, một
tên nôm na, đều không diển tả được
hết nội dung của khu vườn nầy. Tên Pháp th́ hoàn toàn chỉ nói về
cây cối là sai, v́ trong vườn có nuôi rất nhiều
loại thú khác nhau. Tên Việt
chính thức cũng không hoàn toàn đúng v́ chỉ nói
đến cây cối và chim, bỏ ra ngoài các loài thú. Tên Việt nôm na th́ chỉ nói
tới thú, bỏ qua hết cây cối, bông hoa. Tuy nhiên phải công nhận
một điều là tên Sở Thú có vẻ sát với
thực tế nhứt, v́ phần đông khách vào Sở Thú
là để xem thú nhiều hơn là xem cây cối. Sau khi vào cổng chính, du khách
sẽ thấy ngay trước mặt ḿnh một con
đường tráng nhựa rất rộng xe hơi có
thể chạy được, chia làm hai đường,
một đường để vào, một
đường để ra, phần chính giữa c̣n khá
rộng có những bồn hoa đủ màu. Ngay đầu con đường
nầy, bên tay phải là Đền Thờ Quốc Tổ
(đả kể ở trên), bên trái là Viện Bảo Tàng
Saigon (sẽ nói đến sau).
Con đường nầy chạy dài, thẳng
tắp độ 200 mét th́ hết, đụng vào con
đường chạy dọc theo rạch Thị Nghè. Ngay tại ngả ba nầy là
một sân khấu lộ thiên nhỏ, có tam cấp đi
lên, hai bên viền lại bằng các giàn bông giấy
đủ màu trắng, đỏ, và tím. Đây chính là nơi ḥa nhạc
công cộng vào các ngày lể hay Chúa Nhựt để giúp
vui cho du khách. Ở vào
khoảng giữa con đường lớn nầy có
một ngả tư. Con
đường cắt ngang, nếu ta rẽ về bên tay
phải, sẽ dẩn ta vào khu trung tâm của Sở Thú,
nơi có chuồng khỉ, hầm gấu, chuồng chim,
két, và, đặc biệt
nhất, là một hồ sen rất lớn, ở giữa
có nhà thủy tạ h́nh bát giác có cầu gổ từ trong
bờ đưa ra. Hồ sen
nầy, từ thập niên 60 trở đi có nuôi nhiều cá
chép Nhật Bản đủ màu rất đẹp. Rời khu vực hồ sen ta
sẽ đến khu chuồng cọp, sư tử và dă
nhân. Sau đó bọc ṿng
trở lại bờ sông th́ có chuồng voi và nai. Từ bờ sông gần chuồng
voi có một cây cầu lớn dẩn qua khu Thị Nghè. Chính trên cây cầu nầy đă
xảy ra vụ tai nạn làm chết nhiều người
trong thời gian Hội Chợ Thị Nghè trong thời
Đệ Nhứt Cộng Ḥa.
Ngoài các loại thú, Thảo Cầm Viên cũng có
trồng nhiều kỳ hoa dị thảo, và có cả
một khu nhà kiếng cho các loại phong lan.
Đến Thảo Cầm Viên mà không vào
viếng Viện Bảo Tàng sẽ là một điều
đáng tiếc. Viện
Bảo Tàng, như đă nói ở trên, nằm ngay bên phía tay
trái khi bước vào cổng chính của Sở Thú. Thời Pháp thuộc Viện
Bảo Tàng mang tên Pháp là Musée Blanchard de la Brosse. Trong thời Cộng Ḥa, cố học
giả Vương Hồng Sển đă làm Giám Đốc
viện trong khoảng 10 năm.
Tôi xin mạn phép mở một đấu ngoặc
nhỏ ở đây để ghi lại đôi ḍng kỹ
niệm về vị thầy khả kính vừa khuất
bóng. Năm thứ hai ở
Đại Học Sư Phạm Saigon, niên khóa 1961-1962, anh
chị em Ban Sử Địa chúng tôi được may
mắn học môn sử Việt Nam với thầy
Vương Hồng Sển.
Ngoài việc dạy môn chính khóa nầy, thầy c̣n
kể cho chúng tôi nghe những nghiên cứu của thầy
về đồ sứ men lam Huế mà thầy là chuyên gia
số một của thế giới. Tôi c̣n nhớ măi hai câu thơ thầy
đă ngâm cho chúng tôi nghe khi nói về chiếc dĩa Mai
Hạc:
" Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn củ, Hạc là
người quen"
Tôi xin được đóng dấu ngoặc
lại ở đây. Xin
mời độc giả trở lại Viện Bảo
Tàng. Viện Bảo Tàng là
một toà nhà lớn, dài, sơn trắng, xây trên một
nền cao. Bên trong chia làm
nhiều pḥng, mổi pḥng dành riêng cho một giai
đoạn lịch sử hay một nền văn minh,
chủ yếu là các cổ vật của nước ta và
các quốc gia trong vùng như Chiêm Thành, Phù Nam, Chân Lạp. Đáng chú ư nhứt có lẻ là
pḥng trưng bày các cổ vật của nền văn minh
Óc Eo, đào được tại Long Xuyên trong thập niên
40, đặc biệt là hai đồng tiền cổ La Mă
thời Hoàng Đế Marc Aurèle, chứng tỏ
Vương Quốc Phù Nam xưa đă có những trao
đổi hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp (qua
các thương nhân Ả Rập?) với Đế
Quốc La Mă.
Một cơ sở văn hóa quan trọng
khác, trong đầu thập niên 60, là Viện Khảo
Cổ, cũng nằm ngay trên đường Nguyễn
Bĩnh Khiêm, đối diện với Sở Thú (từ
cuối thập niên 60 trở đi Viện Khảo Cổ
mới dời về đường Gia Long, đối
diện với Bộ Kinh Tế).
Khi tôi học năm thứ nhứt tại Đại
Học Sư Phạm Saigon, thầy dạy môn Phương
Pháp Sử của chúng tôi là Giáo Sư Trương Bữu
Lâm, lúc đó là Giám Đốc Viện Khảo Cổ. Trong năm học thầy
Trương Bữu Lâm tổ chức cho anh chị em sinh
viên chúng tôi vào viếng Viện để được
nghe thuyết tŕnh về công tác của Viện, và chính
tại đây tôi đă được lần đầu tiên
nh́n thấy tận mắt một chiếu chỉ của
triều Lê Thánh Tôn, lồng kính treo trên tường trong
pḥng làm việc của thầy.
Ngoài các cơ sở văn hóa quan trọng
vừa nêu trên, khu Đakao c̣n có khá nhiều rạp hát,
cả cho bộ môn hát bội, cải lương và
chiếu bóng. Về môn hát
bội th́ rạp hát chính là những ngôi đ́nh mà tôi đă
có kể qua ở phần trên.
Về cải lương th́ có rạp Thuận Thành
ở đường Paul Bert (Trần Quang Khải, về
sau bị phá đi để xây rạp chiếu bóng Văn
Hoa) là nơi đóng quân của đoàn Phụng Hảo, và
một rạp nữa trên cùng một đường mà tôi
không c̣n nhớ tên và là nơi đóng quân của đoàn Bích
Thuận. Về chiếu bóng th́ có rạp ASAM và Casino
Đakao cùng nằm trên đường Albert 1er (Đinh Tiên
Hoàng), và rạp Nam Tân trên đường Dr. Angier
(Nguyễn Bĩnh Khiêm). Sang
thập niên 60 chỉ c̣n lại rạp Casino Đakao, sau
năm 1975 đổi tên lại gọi là rạp Cầu
Bông.
Các Món Ăn Ngon Khu ĐaKao
Nói về văn hóa mà không nói đến các món
ăn th́ có phần thiếu sót, v́ ăn uống cũng là
một phần khá quan trọng trong đời sống
văn hóa của một dân tộc.
Sau đây tôi xin lược kể ra các món ngon
nổi tiếng của khu Đakao.
Trước hết xin kể về các món ăn
của người Việt.
Khu Đakao nổi tiếng về các món ăn sau
đây: cơm tấm, bánh cuốn, và bánh ḿ thịt. Về cơm tấm th́ có hai tiệm. Tiệm thứ nhứt nằm
trong đường Nguyễn Phi Khanh, không có bảng
hiệu, nhưng khách ăn quen thường gọi là
Cơm Tấm Bà Ba Liên, theo tên bà chủ tiệm. Cơm tấm tiệm nầy ngon
nhờ gạo ngon, nấu khéo, hột cơm rời
nhưng không khô, b́ nhiều thịt ít da và luôn luôn
tươi (v́ khách ăn tới đâu th́ bà chủ mới
xắc tới đó), và nước mắm th́ pha
đậm (lại bằng nước mắm hạng ngon)
nên không cần chan nhiều.
Tiệm nầy chỉ bán có hai loại, cơm tấm
b́, và cơm tấm b́ chả, miếng chả rất ngon v́
chắc chớ không bời rời và nhiều thịt
cua. Dĩ nhiên tiệm cũng
bán luôn cà phê phin đen và sửa, nhưng cà phê nầy
chỉ thuộc loại xoàng.
Tiệm thứ nh́ theo tôi nhớ cũng không có
bảng hiệu nhưng ai cũng gọi là Cơm Tấm
Hiền Vương v́ nằm trên đường Hiền
Vương, gần tới ngả tư Hai Bà Trưng. So với tiệm Bà Ba Liên, cơm
tấm tiệm nầy không ngon bằng, nhưng không khí và
giá cả có vẻ b́nh dân hơn.
Cơm tấm tiệm nầy th́ nhiều loại
hơn, cơm tấm b́, cơm tấm b́ chả, cơm
tấm b́ hột gà, cơm tấm b́ nem chiên. Miếng chả tiệm nầy
th́ thua xa tiệm Bà Ba Liên, v́ chỉ có trứng và thịt
heo chớ không phải làm bằng thịt cua. Món ngon của tiệm nầy chính
là cơm b́ nem chiên, với mấy chiếc nem Lái Thiêu chiên
mở vàng ngậy, thơm lừng.
Cà phê tiệm nầy th́ uống cũng
được mà không uống cũng không có điều ǵ
đáng tiếc. Về bánh cuốn
th́ phải nói là rất nổi tiếng, đó là bánh
cuốn Tây Hồ. Hàng bánh
cuốn nầy thật ra không có tên, người ta gọi
như thế là v́ lúc mới ra hàng nầy đặt cơ
sở trong sân của Đền thờ Cụ Tây Hồ
Phan Châu Trinh ở bên cạnh chợ Đakao. Sau 1975, cửa hàng dời ra
một căn phố nhỏ đường Đinh Tiên
Hoàng, gần ngả ba với đường Huỳnh
Khương Ninh. Bánh cuốn
Tây Hồ ngon nhờ cuốn ăn liền tại chổ,
bột rất mơng, nhưn ngon v́ làm bằng thịt heo
tươi, trộn nấm mèo và củ hành xắc
nhuyễn, nước mắm chanh pha rất loăng nhưng
vừa miệng nên có thể chan nhiều. Về bánh ḿ thịt th́ nổi
tiếng nhứt là xe Bánh Ḿ Bảy Quan, đặt tại
ngả ba Đinh Tiên Hoàng và Huỳnh Khương Ninh. Nét đặc biệt của xe
bánh ḿ nầy là không bán vào buổi sáng, mà chỉ bán vào ban
đêm, từ 6 giờ chiều trở đi. Cái ngon của bánh ḿ Bảy Quan là
một tổng hợp của nhiều đặc
điểm:1) bánh ḿ luôn luôn nóng ḍn (do được
nướng lại trên một cái ḷ than đằng sau
chiếc xe), 2) bánh ḿ được phết một lớp
mơng sauce mayonnaise, 3) sau đó được phết thêm lên
trên một lớp ba tê gan, 4) thịt ba chỉ (cuộn
lại, cột chặt bằng dây, và có nhuộm phẩm
đỏ bên ngoài) luôn luôn mới mổi đêm, và 5) kèm theo
là đồ chua (củ cải trắng và cà rốt xắc
cộng dài và ngâm dấm), dưa leo và mấy cọng ng̣ tàu
tươi xanh. Về sau
nhiều người cũng nhái theo công thức nầy và
ra nhiều xe bánh ḿ khác, cũng có tiếng, nhu Ba Lẹ, Bé
Bự, nhưng vẩn không tài nào giựt nổi khách
của Bảy Quan.
Về món ăn Tây, th́ khu Đakao, như có nói
qua trong Phần Thứ Nhứt về các con
đường, có khá nhiều nhà hàng cơm Tây khá nổi
tiếng, tất cả đều nằm trên
đường Albert 1er (Đinh Tiên Hoàng). Nhà hàng lâu đời nhứt trong
khu Đakao là nhà hàng Casino Đakao, đối diện
với rạp chiếu bóng có cùng tên, và cũng là nhà hàng
cơm Tây đầu tiên của cả Saigon có bán Repas Complet
với ba món và với một giá tiền nhứt
định. Các món nổi
tiếng của nhà hàng nầy là Soupe à l'Oignon, Poulet Marengo,
và Homard Thermidor. Soupe à l'Oignon
(súp hành) dựng trong tô lớn bưng ra múc vào dĩa cho
khách, rất nóng, thành phần gồm có củ hành tây
xắc khoanh và chiên vàng, fromage Gruyère bào nhuyển, và mấy
miếng ruột bánh ḿ, trong một thứ nước súp
rau cải ngọt lịm.
Poulet Marengo (Gà Marengo) là một món gà (thường là
cái đùi) chiên vàng, thả vào trong một thứ
nước sốt rất sệch có pha sửa và có
đủ thứ đồ bổi như cà rốt, khoai
tây, và cà mấy khoanh bánh ḿ nữa.
Homard Thermidor (Tôm hùm Thermidor) là món tôm hùm làm bằng
thịt tôm hùm trộn với fromage, dồn trở lại
vô vỏ tôm, rồi đút ḷ.
Một nhà hàng cơm Tây khác là Chez Albert th́ nổi
tiếng với hai món ngon, Salade Russe au Crabe và
Chateaubriand. Salade Russe au Crabe làm
bằng các loại cà rốt, khoai tây, đậu Ḥa Lan,
tất cả xắc vuông nhỏ, trộn sauce mayonnaise và
thịt cua, món nầy ăn rất ngon nhưng không ăn
nhiều được v́ quá béo nên mau ngán. Chateaubriand là một loại steak
cao cấp, làm bằng một miếng thịt ḅ rất
dầy, nhưng rất mềm, ăn kèm với khoai tây
chiên. Một nhà hàng cơm Tây
nữa nổi tiếng với món Bouillabaisse là nhà hàng La
Cigale (Con Ve Sầu), ở gần ngả tư với
đường Richaud (Phan Đ́nh Phùng). Bouillabaisse là món đồ
biển, gồm có nhiều loại tôm, cá, cua, ốc, mực,
ăn với một loại nước chấm
đặc biệt. Món nầy
ngon hay dở là do nước chấm đó, nghe nói làm
rất công phu, món nầy xuất phát từ vùng Marseille
của Miền Nam nước Pháp.
Một nhà hàng cơm Tây khác nữa là nhà hàng Duy Ban,
đối diện với Chez Albert, cũng nổi tiếng,
nhưng có lẻ nổi tiếng là do khung cảnh (rất
lịch sự, trang nhă) hơn là món ăn, v́ tôi không c̣n
nhớ món nào là món ngon của nhà hàng nầy cả.
Về món ăn của người Hoa th́
dĩ nhiên, không nói ai cũng biết, đó là ḿ Cây
Nhản. Tiệm ḿ nầy mang
cái tên dễ nhớ đó là v́ đặt cơ sở trong
sân một ngôi nhà xưa, đối diện với
trường Tiểu Học Đakao, có một cây nhản
rất lớn. Ḿ Cây Nhản
ngon nhờ một thứ nước sốt đặc
biệt, làm bằng thịt heo xoay nhuyển, vừa
ngọt, vừa béo, vừa thơm.
Sau khi nấu ḿ xong cho vào tô, trước khi đổ
nước lèo vào, th́ nước sốt nầy
được chan một ít lên trên mặt vắt ḿ. Nước sốt nầy như
thế sẽ thấm vào cọng ḿ, và sau đó tan vào trong
nước lèo luôn, làm thành cái vị đặc biệt mà
không có tiệm ḿ, xe ḿ nào có được. Tiềm ḿ nầy, sau năm 1975,
dời ra ngoài xa lộ, cách cầu Phan Thanh Giản
chừng vài trăm mét.
Nói đến chuyện ăn uống ở
Đakao mà không nói đến tiệm Cà phê Thái Chi sẽ là
một thiếu sót lớn. Dân
sành điệu chuyên uống cà phê phin ở Đakao, và có
lẻ một phần khá lớn dân ghiền cà phê phin của
Saigon, ai mà không biết tiệm cà phê Thái Chi nầy. Nằm ngay sát đầu
đường Nguyễn Phi Khanh, tiệm cà phê nầy
đặt cơ sở trong một căn phố nhỏ
xíu, bề ngang chừng hơn ba mét, c̣n bề sâu vô chắc
chừng hơn hai mét thôi, trong tiệm chỉ đặt
được chừng ba hay bốn cái bàn gổ nhỏ,
thấp lè tè, ghế th́ toàn là ghế đẩu. Tuy nhiên đừng v́ cái bề
ngoài lôi thôi nầy mà bị lầm.
Cà phê phin tiệm nầy có thể xếp vào hàng ngon
nhứt của cả thành phố Saigon, theo ư kiến riêng
của cá nhân tôi, th́ c̣n ngon hơn cả cà phê phin Gió Bắc
một thời lừng danh ở đường Phan
Đ́nh Phùng, trong khu Bàn Cờ.
Chủ nhân là một cặp vợ chồng sồn
sồn (hồi thập niên 60, bây giờ không biết c̣n
sống hay không) người Bắc di cư năm 1954 không
có con cái ǵ cả. Cà phê
tiệm nầy ngon nhờ làm toàn bằng cà phê loại ngon
của Ban Mê Thuột, do chính chủ nhân rang, ướp, và
xay một cách đặc biệt nên hương vị vô
cùng đậm đà, khi phục vụ khách th́ dùng những
phin rất tốt, pha thật đậm đặt, nên
uống vô th́ "phê" vô cùng.
Tiệm nầy hiện nay vẩn c̣n ngay tại
địa điểm nầy, nhưng khách th́ đông
hơn gấp bội, v́ tiệm bày thêm rất nhiều bàn
ra ngoài lề đường luôn.
Điều nầy đă một lần nữa xác
định tiệm Cà phê Thái Chi của khu Đakao quả
là "danh bất hư truyền".
Thay Lời Kết
Qua sự tŕnh bày trên chắc bạn
đọc cũng khó mà không đồng ư với tôi
rằng khu Đakao quả thật là một trong những
cái nôi văn hóa quan trọng của thành phố Saigon. Nó là một trong những vùng
đất được định cư từ lâu
đời nhứt của Saigon, với một mật
độ tập trung văn hóa rất cao về nhiều
mặt: giáo dục, tôn giáo, bảo tàng, văn nghệ, và
cả ẩm thực nữa.
Ước mong sau nầy sẽ có những công tŕnh
địa phương chí nghiên cứu nghiêm chĩnh vùng
đất nầy để trả lời cho những
thắc mắc mà đến nay vẩn chưa
được giải đáp thỏa đáng như:
nguồn gốc của địa danh Đakao và
Đất Hộ, tại sao có quá nhiều đ́nh trong
một khu vực nhỏ hẹp như vậy, ai là
những người dân đầu tiên khai phá vùng
đất nầy.